Ung thư đầu tụy: Triệu chứng, chẩn đoán, điều trị và tiên lượng
- Trung tâm Phẫu thuật Gan mật & Tiêu hóa Nhiệt đới

- 12 thg 1
- 8 phút đọc

Tổng quan về tuyến tụy và ung thư đầu tụy
Chúng ta biết tụy là một cơ quan giống hình chiếc búa gồm 3 phần: đầu, thân và đuôi. Tụy có trọng lượng khoảng 80g, kích thước trung bình dài 15 cm, cao 6cm, dày 3cm. Tụy nằm phía dưới dạ dày và trước cột sống.
Ở tụy có hai nhóm tế bào: tế bào tụy ngoại tiết (tiết ra các men đổ vào ruột non để tiêu hóa thức ăn) và tế bào tụy nội tiết (tiết ra nhiều loại hormone đổ vào máu đến tác động ở cơ quan đích). Các tế bào tiết ra hormone của tụy tạo thành nhóm và được gọi là đảo Langerhans.
Dịch tễ học ung thư tụy
Ung thư tụy, chủ yếu là ung thư ống tuyến, ước tính gây ra 66.440 ca bệnh và 51.750 ca tử vong ở Hoa Kỳ hàng năm. Hầu hết các loại ung thư tụy đều là các khối u ngoại tiết phát triển từ các tế bào ống tuyến và các tế bào nang tuyến.
Ung thư biểu mô tuyến của tuyến tụy ngoại tiết phát sinh từ các tế bào ống tuyến thường xuyên hơn 9 lần so với các tế bào nang tuyến; 80% xảy ra ở đầu tuyến. Ung thư biểu mô tuyến xuất hiện ở độ tuổi trung bình là 55 và gặp ở nam giới nhiều hơn nữ giới 1,5 đến 2 lần. Ung thư biểu mô tế bào acinar là một nguyên nhân hiếm gặp của ung thư tuyến tụy. Bệnh có tiên lượng tốt hơn so với ung thư biểu mô tuyến ống truyền thống.
Các yếu tố nguy cơ ung thư tụy

Các yếu tố nguy cơ nổi bật của ung thư tụy bao gồm hút thuốc, tiền sử viêm tụy mạn tính, béo phì và phơi nhiễm hóa chất (ví dụ: beta-naphthylamine, benzidine, amiăng, benzen, hydrocarbon clo hóa). Uống rượu và caffeine dường như không phải là yếu tố nguy cơ.
Di truyền đóng một vai trò nào đó; 10% bệnh ung thư tụy có liên quan đến thành phần di truyền cơ bản. Xét nghiệm di truyền hiện được cung cấp thường xuyên cho tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư tụy.
Phân loại u tụy và mức độ nguy hiểm
U tụy được chia thành 2 loại là u lành tính và u ác tính. U lành tính tuyến tụy rất hiếm gặp, phát triển chậm và không di căn, trong khi đó ung thư tuyến tụy lại là bệnh lý ác tính đặc biệt nguy hiểm, đứng thứ 2 trong các nguyên nhân gây tử vong của ung thư đường tiêu hóa, sau ung thư đại trực tràng.
Ung thư có thể phát triển ở bất kì vị trí nào của tụy, phổ biến nhất là ung thư đầu tụy. Ung thư đuôi tụy ít phổ biến nhất, chỉ chiếm khoảng 5 – 10% ca mắc. Nhìn chung, ung thư tụy dù khởi phát ở bất kì vị trí nào đều cũng rất nguy hiểm.
Tuy nhiên, so với các vị trí khác, ung thư đầu tụy được đánh giá là có các triệu chứng bệnh thường xuất hiện sớm hơn ung thư thân và đuôi tụy, tỷ lệ phẫu thuật cắt bỏ cao hơn và tiên lượng cũng tốt hơn.
Triệu chứng lâm sàng của ung thư đầu tụy

Triệu chứng lâm sàng của ung thư đầu tụy bao gồm:• Vàng da, ngứa da• Phân bạc màu• Tiêu chảy• Tiêu phân mỡ• Bệnh nhân có cảm giác đau vùng thượng vị, cơn đau có thể lan ra sau lưng khi ung thư xâm lấn đám rối tạng sau phúc mạc• Khi ung thư xâm lấn chèn ép tá tràng, bệnh nhân sẽ có cảm giác nôn ói, chảy máu tiêu hóa trên
Các triệu chứng của ung thư tuyến tụy như đau và sụt cân không đặc hiệu, dẫn đến chẩn đoán muộn khi bệnh đã lan rộng. Vào thời điểm chẩn đoán, 90% số bệnh nhân ung thư đã tiến triển tại chỗ, xâm lấn tới các cấu trúc sau phúc mạc, lan đến hạch vùng hoặc di căn đến gan và phổi.
Hầu hết các bệnh nhân đều bị đau bụng trên dữ dội, thường lan ra lưng. Thường sút cân. Ung thư biểu mô tuyến ở đầu tụy gây vàng da tắc mật (có thể gây ngứa) ở 80 đến 90% số bệnh nhân.
Ung thư tụy gây ra bệnh tiểu đường ở một nửa số bệnh nhân, dẫn đến các triệu chứng không dung nạp glucose (ví dụ: đái nhiều và khát nhiều). Ung thư tụy cũng có thể gây trở ngại cho việc sản sinh ra các enzyme tiêu hóa của tụy (suy tụy ngoại tiết) ở một số bệnh nhân và có khả năng tiêu hóa thức ăn và hấp thụ chất dinh dưỡng (kém hấp thu). Tình trạng kém hấp thu này gây ra chướng bụng và đầy hơi và tiêu chảy ra nước, nhờn và/hoặc có mùi hôi, dẫn đến sụt cân và thiếu hụt vitamin.
Chẩn đoán ung thư đầu tụy
Chẩn đoán ung thư đầu tụy bao gồm:• Chụp CT hoặc chụp cộng hưởng từ/chụp cộng hưởng từ mật tụy (MRI/MRCP), sau đó siêu âm nội soi kết hợp sinh thiết chọc hút bằng kim nhỏ (EUS/FNA)• Kháng nguyên CA 19-9 để theo dõi (không phải để sàng lọc)• Chụp CT ngực đánh giá sự di căn của khối u• Cần thực hiện các xét nghiệm máu cơ bản, bao gồm công thức máu, điện giải và xét nghiệm gan để đánh giá tình trạng thiếu máu, bù nước, tình trạng chung và khả năng di căn gan
Điều trị ung thư đầu tụy
Điều trị ung thư đầu tụy bao gồm:
Phẫu thuật cắt bỏ (cắt bỏ khối tá tụy)
Hóa trị hoặc hóa trị liệu phối hợp và xạ trị (hóa xạ trị) bổ trợ trước phẫu thuật
Kiểm soát triệu chứng
Khoảng 80% đến 90% số trường hợp ung thư được coi là không thể phẫu thuật cắt bỏ tại thời điểm chẩn đoán do di căn hoặc xâm lấn vào các mạch máu lớn.
Đối với những bệnh nhân phải phẫu thuật cắt bỏ, vị trí của khối u trong tuyến tụy sẽ quyết định loại thủ thuật được thực hiện. Các khối u ở đầu tụy được loại bỏ bằng thủ thuật Whipple (cắt bỏ đầu tụy, tá tràng, đoạn gần của hỗng tràng, ống mật chủ, túi mật và một đoạn dạ dày). Các khối u ở cổ, thân hoặc đuôi thường được cắt bỏ bằng phẫu thuật cắt tụy ở đoạn xa, trong đó đầu tụy được giữ nguyên tại chỗ.
Đối với bệnh ở ranh giới có thể cắt bỏ, hóa trị bổ trợ trước mổ (trước phẫu thuật) hoặc hóa xạ trị ngày càng được sử dụng nhiều hơn do tính chất tiến triển của nhóm phụ bệnh này và dữ liệu hỗ trợ cải thiện kết quả điều trị ung thư. Dữ liệu từ một thử nghiệm phân nhóm ngẫu nhiên cho thấy lợi ích về thời gian sống thêm toàn bộ ở những bệnh nhân có thể cắt bỏ ở ranh giới được hóa trị bổ trợ trước mổ so với những bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật trước đó.
Các phác đồ hóa trị trong ung thư đầu tụy
Các phác đồ ưu tiên cho liệu pháp bổ trợ trước mổ hoặc liệu pháp bổ trợ là FOLFIRINOX (fluorouracil, oxaliplatin, leucovorin và irinotecan) hoặc gemcitabine cộng với paclitaxel gắn kết với albumin dạng hạt nano (nab) paclitaxel.
Trong một thử nghiệm then chốt, phác đồ FOLFIRINOX mang lại thời gian sống thêm toàn bộ trung vị là 54 tháng sau phẫu thuật cắt bỏ ung thư biểu mô ống tuyến, dài hơn đáng kể khi so sánh với gemcitabine. Một thử nghiệm khác cho thấy thời gian sống thêm toàn bộ tương tự khi so sánh việc sử dụng phác đồ FOLFIRINOX trong thời gian chu phẫu với nab-paclitaxel (thời gian sống thêm toàn bộ trung vị là 23,2 tháng với FOLFIRINOX so với 23,6 tháng với gemcitabine và nab-paclitaxel).
Điều trị giảm nhẹ và xử trí biến chứng
Nếu một khối u không thể cắt được khi mổ và tắc nghẽn dạ dày tá tràng hoặc ống mật đang hiện hữu hoặc đang chờ xử lý, một cuộc phẫu thuật nối đôi dạ dày và đường mật thường được thực hiện để giảm tắc nghẽn.
Ở những bệnh nhân có tổn thương và vàng da không phẫu thuật được, nội soi đặt stent ống mật làm giảm vàng da. Đặt stent tá tràng thường được thực hiện. Tuy nhiên, phẫu thuật nối thông nên được xem xét ở bệnh nhân có tổn thương không thể cắt bỏ được nếu thời gian sống kỳ vọng > 6 đến 7 tháng do các biến chứng liên quan đến stent.
Tiên lượng của bệnh nhân ung thư đầu tụy
Tiên lượng về bệnh ung thư tuyến tụy thay đổi tùy theo giai đoạn nhưng nhìn chung là kém vì nhiều bệnh nhân đã ở giai đoạn tiến triển tại thời điểm chẩn đoán. Trong một nghiên cứu dựa trên dân số, đã thấy thời gian sống thêm 5 năm dưới 5% mặc dù thời gian sống thêm được cải thiện đối với một nhóm bệnh nhân đã phẫu thuật cắt bỏ.
Sàng lọc ung thư tụy ở nhóm nguy cơ cao
Sàng lọc ung thư tụy cần phải được nghĩ đến ở những bệnh nhân có hội chứng di truyền liên quan đến tăng nguy cơ ung thư tụy, bao gồm tất cả các bệnh nhân sau đây:• Hội chứng Peutz-Jeghers• Viêm tụy do di truyền• Đột biến gen CDKN2A• 1 hoặc nhiều người cùng huyết thống bậc một bị ung thư tuyến tụy mắc hội chứng Lynch• Các đột biến trong các gen BRCA1, BRCA2, PALB2 và ATM
Những người có nguy cơ ở mức trung bình bị ung thư tụy không nên được sàng lọc. Việc sàng lọc trong nhóm dân số có nguy cơ cao này bắt đầu ở độ tuổi 50 hoặc 10 năm trước độ tuổi trẻ nhất có khởi phát bệnh của gia đình (tùy theo độ tuổi nào trẻ hơn). Các trường hợp ngoại lệ bao gồm những người mang đột biến CKDN2A và PRSS1 mắc bệnh viêm tụy do di truyền (40 tuổi) và hội chứng Peutz-Jeghers (35 tuổi).
Chụp MRI hàng năm thường được sử dụng, kèm theo siêu âm có nội soi (EUS) được thực hiện cho các tổn thương không xác định hoặc tổn thương có nguy cơ cao được xác định trên MRI sàng lọc.
Địa chỉ điều trị các bệnh Gan mật, Tiêu hóa, Ung bướu uy tín
Trung tâm Phẫu thuật Gan mật - Tiêu hóa là một trong những cơ sở hàng đầu trong tư vấn, tầm soát và điều trị các bệnh Gan mật, Tiêu hóa, Ung bướu. Trung tâm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn diện với các phương pháp điều trị tiên tiến như phẫu thuật, đốt sóng cao tần (RFA), nút mạch hóa chất, điều trị toàn thân bằng thuốc nhắm đích, liệu pháp miễn dịch và kháng thể đơn dòng.
Không gian điều trị được thiết kế hiện đại, với phòng bệnh, cơ sở vật chất tiện nghi, mang lại cảm giác thoải mái và riêng tư cho người bệnh.
Đội ngũ y bác sĩ tại Trung tâm Phẫu thuật Gan mật - Tiêu hóa có chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm trong điều trị các bệnh Gan mật, Tiêu hóa, Ung bướu. Các bác sĩ luôn cập nhật những tiến bộ y khoa mới nhất, áp dụng phác đồ điều trị theo tiêu chuẩn quốc tế, giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
Địa chỉ: Tầng 3 khoa Ngoại, phòng 213 Phòng khám Gan mật - Tiêu hóa, Xã Thiên Lộc, Hà Nội
Điện thoại: 0339 000 533 - Giám đốc: Tiến sĩ Bs Nguyễn Minh Trọng
Email: ganmat.nhietdoitw@gmail.com




Bình luận